Cà phê Vối – Robusta | Fine Robusta Việt Nam

Robusta hình minh hoạ

Nội Dung Chính

Coffea canephora – Cà phê Vối

Cây C. canephora được nhiều người gọi bằng cái tên chung là robusta, nhưng nói một cách chính xác, robusta chỉ đề cập đến một dòng C. canephora cụ thể; ngoài robusta có một dòng khác phổ biến ở Brazil được biết đến với tên gọi là conilon. Do đó, robusta và conilon không phải là những giống đơn lẻ, ổn định mà là những nhóm khác nhau của cùng một giống C. canephora.

Coffea canephora là tên khoa học của cây cà phê robusta. Tuy nhiên, phần lớn cà phê canephora được sản xuất ở Brazil, và ở đây nó được gọi là conilon. Mặc dù những cái tên này thuộc cùng một loài, nhưng chúng được coi là thuộc các nhóm di truyền khác nhau. Sự đa dạng di truyền của C. canephora lần đầu tiên được mô tả ở cấp độ phân tử vào những năm 1980. Những nghiên cứu đó cho thấy có hai nhóm di truyền chính, nhóm Congo và Guinean. Mỗi nhóm được phân biệt bởi sự khác biệt về hình thái sinh trưởng và sự thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau. Các nghiên cứu sau đó cho phép phân biệt rõ hơn thành bảy phân nhóm bao gồm: D (Guinean); SG1 (A); SG2 (B/Central African Republic); E (Congo); C (Cameroon); R (Democratic Republic of the Congo); và O (Uganda). Chỉ một phần nhỏ của sự đa dạng này (chủ yếu SG1 và SG2) được sử dụng trong các chương trình nhân giống hiện đại, trong khi các cây conilon đến từ nhóm di truyền được gọi là SG1, thì cây cà phê robusta đến từ nhóm di truyền rộng hơn – SG2.

C. canephora thực tế là loài cha mẹ của C. arabica, cùng với C. eugenoides nó đã sinh ra cây cà phê arabica ngày nay; Và do đó C. canephora có sự đa dạng di truyền rộng hơn nhiều so với C. arabica. Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Coffee Organization, viết tắt là ICO), C. canephora chiếm khoảng 35% tổng sản lượng cà phê thế giới. Nó được canh tác bên ngoài châu Phi vào thế kỷ XIX, tức gần 300 năm sau khi cây arabica rời lục địa này. Do đó, rất ít thông tin về lịch sử, nền thực vật, cơ sở di truyền và đặc tính canh tác của nó so với arabica. C. canephora đã được tìm thấy như một loài bản địa trong một loạt các môi trường sống, từ bờ biển Đại Tây Dương của vùng xích đạo Châu Phi đến cao nguyên xung quanh hồ Victoria, ở độ cao khoảng 1.000 mét trên mực nước biển. Ngân hàng gen rộng lớn này chắc chắn còn lưu giữ nhiều điều bất ngờ về hương vị và chất lượng. Tuy nhiên, trong suốt lịch sử, giống cà phê C. canephora chỉ được lai tạo để cho năng suất thương phẩm, năng suất cà phê hòa tan và khả năng kháng sâu bệnh.

Mặc dù robusta phát triển nhanh hơn arabica và chịu được các điều kiện thời tiết khắc nghiệt hơn, nhưng nó thường không được quan tâm và chăm sóc như người “anh em” của mình trong sản xuất và chế biến. Đối với nhà sản xuất, canh tác robusta rẻ hơn, năng suất cao hơn, hàm lượng caffeine tự nhiên cao hơn và có khả năng chống lại hạn hán và côn trùng tốt hơn. Do đó, luôn tồn tại một niềm tin chung rằng hạt robusta cho ra một tách cà phê với hương vị kém hấp dẫn hơn arabica. Với tất cả những định kiến không tốt được biết về robusta, rất khó để có thể lần ra bất cứ mối liên hệ nào với cái tên canephora.

Mặc dù robusta là một thành viên của họ Coffea canephora, và là anh em họ với cà phê arabica. Nhưng có rất nhiều quan niệm sai lầm về robusta. Một trong những nhầm lẫn lớn nhất là về mặt kỹ thuật – nhiều người trong ngành cà phê đặc sản thường đánh giá chất lượng hương vị của cà phê robusta theo tiêu chuẩn của arabica. Chúng là hai loài cùng một chi, giống như lừa và ngựa. Cả lừa và ngựa đều là những nguồn tài nguyên quý giá đối với con người, nhưng mỗi loài có những cách gọi khác nhau và chúng phục vụ cho những mục đích khác nhau,… Có vùng đất thích hợp cho arabica và vùng đất thích hợp cho robusta. Nhìn chung, robusta đa dạng về mặt di truyền hơn so với arabica, cơ sở di truyền của loài này gần như vô tận. Điều này có nghĩa là về mặt lý thuyết có vô số các giống canephora khách nhau ở các vùng sản xuất cà phê trên toàn cầu.

Không giống như arabica, robusta không tự thụ phấn – nó cần được thụ phấn chéo bởi các cây khác nhau về mặt di truyền để kết trái. Vì lý do này, sẽ không thực tế nếu nói rằng chỉ có một loại robusta duy nhất, ổn định trên một trang trại cà phê. Hơn nữa, vì robusta phải được thụ phấn chéo để kết trái nên việc trồng cây robusta từ hạt sẽ tạo ra nhiều loại cây khác biệt về mặt di truyền có thể có những đặc điểm rất khác nhau. Cách duy nhất để đảm bảo các đặc điểm của giống canephora được nối tiếp là nhân giống vô tính nó (như việc giâm cành). Tuy nhiên, giống vô tính phải được trồng cùng với sự chọn lọc của các giống khác nhau để có hiệu quả thụ phấn và kết trái.

Về mặt sinh thái học, những bụi cây cà phê arabica thường lùn hơn so với robusta , chiều cao từ 2,5-4,5 mét (so với 4,5-6,5 mét của robusta). Sự khác biệt về cấu trúc cũng tồn tại giữa các loại hạt của hai loài cà phê. Trong khi hạt cà phê arabica nói chung có hình elip, thuôn và dài hơn thì hạt cà phê robusta lại tròn hơn và nhỏ hơn. Điều này có thể giải thích tại sao mỗi loại yêu cầu những kỹ thuật rang khác nhau.

Về năng suất, mỗi cây arabica sẽ tạo ra khoảng 1-5 kg/mỗi mùa vụ, trong khi robusta có thể cho gấp đôi con số ấy, điều này khiến chi phí trồng arabica cao hơn nhiều so với robusta trên cùng một diện tích trồng trọt – Tuy nhiên, có rất nhiều giống arabica lai tạo, một số trong chúng cho năng suất cao hơn rất nhiều.

Ở cấp độ di truyền, arabica có số lượng nhiễm sắc thể gấp đôi (44) so với robusta (ở mức 22). Điều này có nghĩa rằng arabica là cây trồng tự thụ phấn (tứ bội), tức là nó sẽ có ít đột biến và ít biến thể hơn trong suốt vòng đời so với robusta .Trong khi arabica có nhiều mục đích thương mại khác nhau, từ loại kém chất lượng dùng cho cà phê hòa tan đến cà phê phổ thông, cà phê chất lượng cao trong các cửa hàng thuộc làn sóng thứ hai hay thậm chí là cà phê đặc sản. Thì ngược lại, robusta luôn được coi là thuộc danh mục cấp thấp của thị trường. Trên thực tế, giá của nó chỉ bằng một nửa so với arabica và nó chủ yếu được sử dụng cho cà phê hòa tan.

(*) Sản lượng arabica chiếm 105 triệu bao so với tổng 175 triệu bao (60 kg) trong niên vụ 2020/2021, theo thống kê của Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Coffee Organization).

Hãy là người đầu tiên chia sẻ bài đăng này!

Bài đăng mới

Máy Pha Cà Phê Espresso

Theo từ điển Merriam-Webster, Espresso được định nghĩa là “cà phê được pha bằng cách ép hơi nước hoặc nước nóng qua các hạt cà

Hạt Mịn (Fine)

Hạt cà phê là một ma trận ba chiều phức tạp của các sợi cellulose được phủ bằng dầu và các chất rắn khác. Những