Nguyên Mẫu Đầu Tiên Của “Caffè Express”

Nội Dung Chính

Thế giới đã phải đợi đến năm 1901 để máy pha cà phê phục vụ nhanh được sản xuất thương mại lần đầu tiên, và thêm hai năm nữa để giải quyết tất cả các vấn đề kỹ thuật lúc bấy giờ. Đó là nỗ lực phối hợp của hai người đàn ông, Luigi Bezzera và Desiderio Pavoni. Người ta thường ví đây là Steve Wozniak và Steve Jobs (hai nhà sáng lập của Apple) của cà phê Ý – người đã biến Espresso thành hiện thực.

Đánh dấu cho công cuộc hiện thực hoá khái niệm Espresso là Luigi Bezzera ở Milan. Vào năm 1901, Bezzera đã đăng ký bằng sáng chế cho một chiếc máy được trang bị nhiều cụm chiết xuất (group head) để kẹp các bộ lọc (tức portafilter) có chứa cà phê nén, cho phép người phục vụ “phô bày” (expressly) việc pha một tách cà phê trước khách hàng.

Nhờ áp suất của hơi nước trong một nồi hơi lớn bằng đồng thau, một cốc cà phê tốc hành (express) đã được phục vụ. Ông gọi sáng chế của mình là “Gigante” – nó có sẵn một loạt tùy chọn, từ hai đến sáu cụm pha chế. Tuy nhiên, do Gigante của Bezzera được đốt nóng trực tiếp bằng lửa nên việc kiểm soát áp suất và nhiệt độ trở nên khó khăn, nó không có tính nhất quán – vốn là yếu tố then chốt trong thế giới cà phê Espresso.

Trong vòng một năm sau khi nhận được bằng sáng chế của mình, Bezzera đã thiết lập mối quan hệ kinh doanh với Desiderio Pavoni. Đến năm 1902, Pavoni đã mua bằng sáng chế của Bezzera với số tiền được đồn đoán là khoảng 10.000 lira.

Mặc dù các chi tiết chính xác về mối quan hệ công việc của họ không được biết, nhưng tại Hội chợ Milan 1906, một cỗ máy có tên là Ideale, mang huy hiệu Pavoni, đã được trưng bày trên một giá đỡ mang tên Bezzera (vì vậy nhiều tài liệu ghi nhận chiếc máy là “Pavoni Ideale” mà quên rằng, nó dựa trên bằng sáng chế ban đầu của Bezzera). Ideale đã trở thành chiếc máy pha cà phê áp suất hơi nước (ở thời kỳ này), thành công về mặt thương mại đầu tiên được phổ biến rộng rãi.

Điều đặc biệt, là Pavoni không chỉ là một nhà tiếp thị, ông đã đề xuất một vài điều chỉnh cho thiết kế ban đầu của Bezzera. Trước tiên là van xả áp, giúp cà phê nóng và hơi nước không văng vào người barista khi pha chế. Thêm vào đó, là một “đũa hơi” (như hình bên cạnh) – Thứ mà ngày nay ta thấy mọi barista dùng để tạo bọt sữa cho món Cappuccino. Họ gọi loại cà phê mà chiếc máy này tạo ra là “caffè Espresso” vì nó được pha một cách nhanh chóng ngay trước mắt mọi người.

Những chiếc máy này đặc biệt phù hợp với cái gọi là “quán bar kiểu Mỹ” – nơi giai cấp tư sản Ý thường xuyên lui tới trong các buổi hẹn kinh doanh hoặc vào cuối ngày làm việc. Khác với các quán cà phê truyền thống, nơi mà khách hàng được phục vụ cà phê tại bàn, thì ở quán bar kiểu Mỹ, khách hàng đứng ở một phía của quầy và mua cà phê từ một người phục vụ ở phía đối diện, và trực tiếp quan sát quá trình pha chế một cốc cà phê với các máy Espresso.

Mặc dù Ideale rất nhanh – mất khoảng 45 giây để pha một tách cà phê, nhưng cũng giống như các máy hơi nước khác, nó chỉ có thể tạo ra áp suất 1.5 bar. Quá trình pha chế có thể diễn ra trong khoảng một phút (khá dài, theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng rất nhanh vào thời điểm đó). Bởi vì thời gian chiết lâu, cà phê sẽ có mùi cháy và để lại vị đắng gắt. Hơn nữa, do áp suất kém, Espresso không có lớp crema như thường thấy ngày nay. Cuối cùng, Ideale chỉ sử dụng 14 gam cà phê xay mỗi lần pha.

Sau hội chợ Milan, các máy pha cà phê Espresso tương tự bắt đầu xuất hiện khắp Italy, và chiếc máy tiện dụng đầu tiên của Bezzera đã phát triển thành những đồ trang trí mạ vàng trang nhã vào thời đó. Tuy nhiên, đầu tư vào máy pha cà phê Espresso Ideale rất tốn kém, vì vậy, nó chỉ hiện diện trong các quán cà phê nổi tiếng ở các thành phố lớn của Châu Âu. Đổi lại, điều này có nghĩa rằng chỉ những người “khá giả” mới có thể thưởng thức cà phê Espresso.

Trong 40 năm sau đó, thiết kế máy Espresso của Pavoni và Bezzerra vẫn không thay đổi. Các công ty khác bắt đầu sản xuất các máy chạy bằng hơi nước tương tự, nhưng rất ít người đưa Espresso rời khỏi biên giới Ý, chúng không phổ biến như một cuộc “cách mạng” thực sự.

Trong số các đối thủ cạnh tranh ngày càng tăng của Pavoni có một tên tuổi đáng chú ý: Pier Teresio Arduino – nhà sáng lập Victoria Arduino. Với chiến lược tiếp thị khôn ngoan, Arduino cùng với các cỗ máy “vươn cánh” (các máy của Victoria Arduino thời kỳ này thường có biểu tượng chim đại bàng trên đỉnh) của ông đã giúp đưa Espresso và tên tuổi nước Ý ra thị trường thế giới trong những năm sau đó.

Pier Teresio Arduino đã có nhiều đóng góp đáng kể trong việc tinh chỉnh không chỉ máy pha cà phê thương mại mà còn cả những máy nhỏ hơn, di động hơn – ở quy mô gia đình. Vào năm 1918 Arduino đã đăng ký bằng sáng chế một bộ lọc có hai vòi (thứ rất phổ biến ngày nay), có khả năng pha hai cốc riêng biệt cùng một lúc. Trước đó, vào năm 1910 Pier Teresio Arduino đã đăng ký bằng sáng chế cho cơ chế piston trục vít trên máy pha cà phê của ông, tương tự như trên máy Ideale nhưng người vận hành máy cần vặn vít để ép nước qua cà phê. Thật không may, cách tiếp cận này dường như không được coi là thành công.

Máy pha cà phê gia đình chạy bằng điện, sử dụng áp suất hơi nước với bộ lọc ba vòi cải tiến của Victoria Arduino trong khoảng năm 1920.

Mặc dù có nhiều phát minh nổi trội, nhưng những đóng góp chính của ông cho lịch sử của Espresso lại mang bản chất khác. Arduino là một nhà kinh doanh và nhà tiếp thị bậc thầy – hơn cả Pavoni. Ông đã xây dựng một “cỗ máy tiếp thị” xoay quanh cà phê Espresso, thể hiện hoàn hảo bản chất của cà phê Espresso với hơi thở công nghiệp hoá của xã hội đương thời.

Năm 1922, Arduino đầu tư cho một quảng cáo được thực hiện bởi họa sĩ Leonetto Cappiello, với hình vẽ một người đàn ông thanh lịch đang với tay ra từ một đoàn tàu đang chạy để đón lấy một ly Espresso từ máy Victoria Arduino. Arduino đã làm cho máy Espresso trở nên sinh động hơn.

Cappiello đã trở thành một trong những họa sĩ, nhà thiết kế áp phích được đánh giá cao nhất trong lịch sử đồ họa trên toàn thế giới cho đến ngày nay. Vào những năm 1920, Arduino có một nhà máy sản xuất lớn hơn nhiều so với nhà máy của Pavoni ở Milan và nhờ khả năng sản xuất và sự am hiểu về tiếp thị của ông ấy

Hãy là người đầu tiên chia sẻ bài đăng này!

Bài đăng mới

Độ Kiềm Và Độ pH

Trong môi trường tự nhiên, nước luôn nhận được thêm các ion từ nhiều chất mà nó hòa tan. Nếu nước hòa tan một axit,

Độ Cứng Của Nước

Bây giờ, hãy bắt đầu với hơi nước – trong khí quyển, vì “hơi nước” về cơ bản là H2O tinh khiết, nhưng ngay sau