Cao Độ Và Vĩ Độ Của Cây Cà Phê | Fine Robusta Việt Nam

Caturra - Arabica - FiRo

Nội Dung Chính

Các nghiên cứu về độ cao canh tác tối thích cho C. arabica có thể khác nhau một cách tương đối, nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng cây cà phê arabica thích nghi tốt trong phạm vi trồng trọt từ 800 đến 2000m trên mực nước biển. Ngay cả khi các loài cà phê được tìm thấy ở độ cao từ mực nước biển lên đến 2300m, thì hầu hết các loài (67%) đều thích nghi với một phạm vi hạn chế ở độ cao dưới 1000m. Mặt khác, hầu hết các loài phân bố rộng rãi ở lục địa châu Phi (tức là C. canephora, C. eugenioides, và C. liberica) thường được tìm thấy trong các môi trường ẩm ướt.

Tại các nước như Costa Rica, Guatemala và Honduras, hạt cà phê được phân loại theo độ cao canh tác, với quan điểm chung là: Quá trình chín chậm lại của quả cà phê ở độ cao cao hơn (nhiệt độ không khí thấp hơn), hoặc dưới bóng râm, cho phép có nhiều thời gian hơn để làm đầy hạt hoàn chỉnh. Tuy nhiên, có một lưu ý quan trọng khi nghiên cứu về tác động của độ cao đến cây cà phê, là chúng ta không nên tách rời cao độ với vĩ độ. Khi khoảng cách từ đường xích đạo tăng lên, nhiệt độ ở một độ cao nhất định sẽ giảm. Hãy xem xét một ví dụ: Trên độ cao 1.000m so với mực nước biển, cây cà phê ở Hawaii thừa hưởng một khí hậu mát mẻ hơn nhiều so với cây cà phê trên độ cao 1.000m nhưng được trồng ở Colombia (gần đường xích đạo hơn). Trong khi cà phê được trồng ở Hawaii có thể biểu hiện các thuộc tính hương vị trái cây phức tạp và độ chua rõ rệt, thì hiếm khi được tìm thấy ở Colombia, mặc dù độ cao là như nhau.

Như vậy, độ cao lớn hơn có liên quan đến thành phần khối lượng hạt – và tất nhiên là hương vị của cà phê, nhưng nó không phải là mối tương quan nguyên nhân – kết quả. Nguyên nhân thực sự là nhiệt độ. Nhiệt độ mát hơn và mức oxy thấp hơn khiến hạt cà phê sinh trưởng chậm hơn vì về cơ bản chúng đang bị căng thẳng khi ở trên cao. Ở trạng thái này, phần lớn năng lượng của cây cà phê hướng tới việc tạo hạt (trái ngược với việc phát triển cành, lá) làm cho hạt cà phê cứng và dày đặc. Các quả cà phê cũng có nhiều thời gian hơn để phát triển và lưu trữ chất dinh dưỡng, chủ yếu ở dạng đường (carbohydrate). Theo ước tính cứ tăng độ cao 300 mét thì hàm lượng sucrose trong hạt cà phê sẽ tăng 10%.

Đây là lúc, có thể nói độ cao là một thang đo không công bằng. Mặc dù nó có thể chỉ ra chất lượng cà phê, nhưng nếu không có ngữ cảnh phù hợp – với vĩ độ, nhiệt độ, khí hậu và thổ nhưỡng địa phương và hơn thế nữa – nó có thể trở nên vô nghĩa. Thậm chí trong cùng một quốc gia, khu vực, các yếu tố vi khí hậu bất thường (núi che chắn, địa hình thung lũng, nhiều mây bao phủ, v.v…) thì độ cao có thể không thực sự vận hành theo các lý thuyết vừa nêu.

Vậy tại sao chúng ta lại dựa vào độ cao thay vì nhiệt độ hay bất cứ yếu tố nào khác để đánh giá cà phê? Bởi vì, không giống như độ cao, nhiệt độ dao động theo mùa, theo ngày và thậm chí theo giờ. Hơn nữa, việc giải thích tất cả những điều phức tạp này cần có thời gian và một người nghe kiên nhẫn. Vì vậy, nên khi được hỏi tại sao độ cao lại quan trọng, hầu hết chúng ta đơn giản hóa vấn đề và chỉ nói rằng độ cao càng cao thì cà phê càng ngon.

Hãy là người đầu tiên chia sẻ bài đăng này!

Bài đăng mới

Máy Pha Cà Phê Espresso

Theo từ điển Merriam-Webster, Espresso được định nghĩa là “cà phê được pha bằng cách ép hơi nước hoặc nước nóng qua các hạt cà

Hạt Mịn (Fine)

Hạt cà phê là một ma trận ba chiều phức tạp của các sợi cellulose được phủ bằng dầu và các chất rắn khác. Những