Arabica – Bourbon và Typica | Fine Robusta Việt Nam

Typica - Arabica FiRo

Nội Dung Chính

Một số lượng nhỏ cây cà phê được đưa ra khỏi Yemen bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII đã tạo thành nền tảng của hầu hết sản lượng cà phê arabica trên toàn thế giới ngày nay. Chúng ta gọi những cây cà phê hậu duệ của loài tổ tiên arabica là “nhóm di truyền Bourbon và Typica” (Bourbon/ Typica Group). Nhìn chung, những giống cà phê này có phẩm chất hương vị cao hoặc rất cao, nhưng rất dễ mắc các bệnh hại trên cà phê. Ngày nay, hơn 80% cà phê arabica được sản xuất ở khu vực Mỹ Latinh vẫn dựa trên các giống cây trồng được phát triển từ lâu bằng cách chọn dòng từ trong các giống Typica và Bourbon hoặc các cây lai giữa các giống này.

Typica - Arabica FiRo

1. Dòng dõi Typica

Vào cuối những năm 1600, cây cà phê (gồm cả Typica và Bourbon) đã rời khỏi Yemen và phát triển ở Ấn Độ. Những hạt giống này đã phát sinh ra các đồn điền cà phê ở vùng Mysore – được biết đến với tên gọi Malabar vào thời điểm đó. Nhóm di truyền Typica có khả năng tách khỏi Bourbon khi người Hà Lan gửi hạt giống vào năm 1696 và 1699 từ bờ biển Malabar của Ấn Độ đến Batavia, ngày nay được gọi là Jakarta – thủ đô của Indonesia, nằm trên đảo Java đông dân. Nói cách khác, sự phân lập của nhánh Typica và sự di chuyển tiếp theo của nó trên khắp thế giới bắt nguồn từ hạt giống của Ấn Độ đến Indonesia.

Từ Hà Lan, các cây Typica đã du hành theo các tuyến đường thương mại thuộc địa đến vùng Guiana thuộc Hà Lan (nay là Suriname) vào năm 1719 và sau đó đến Cayenne (vùng Guianna thuộc Pháp) vào năm 1722, và từ đó đến phần phía bắc của Brazil vào năm 1727. Từ Brazil, giống Typica chuyển đến Peru và Paraguay. Vào cuối thế kỷ XVIII, việc trồng trọt đã lan sang vùng Caribê (Cuba, Puerto Rico, Santo Domingo), Mexico và Colombia, và từ đó đến khắp Trung Mỹ. Theo một con đường khác, từ Pháp các cây Typica được gửi đến Martinique ở Tây Ấn vào năm 1723. Tiếp đó, người Anh đã mang giống Typica từ Martinique đến Jamaica vào năm 1730 và đến Santo Domingo vào năm 1735. Từ Santo Domingo, hạt giống được gửi đến Cuba vào năm 1748. Sau đó, Costa Rica (1779) và El Salvador (1840) nhận được hạt giống Typica từ Cuba.

Cho đến những năm 1940, phần lớn các đồn điền cà phê ở Trung Mỹ được trồng Typica. Bởi vì giống này vừa có năng suất thấp vừa rất dễ mắc các bệnh chính trên cà phê, nên nó đã dần dần được thay thế trên khắp châu Mỹ bằng các giống Bourbon, nhưng vẫn được trồng rộng rãi ở Peru, Cộng hòa Dominica và Jamaica. Mặc dù Typica thường được biết đến như một nhóm với nhiều giống con – theo quan điểm phân loại thực vật học. Tuy nhiên, khi giống hậu duệ này được canh tác rải rác trên khắp thế giới và mang các tên gọi khác nhau như Criollo (Creole), Indio (tại Ấn Độ) hoặc Arábigo (arabica) hay Blue Mountain (tại Jamaica) và Sumatra (tại Indonesia). Chúng đều được xem là một giống cà phê riêng biệt, độc lập.

1.1. Giống Pache từ Typica

Pache là một đột biến tự nhiên của giống Typica liên quan đến một gen khiến cây phát triển nhỏ hơn (đột biến lùn tự nhiên hay còn gọi là dwarfism), cho phép trồng dày đặc hơn và đạt năng suất cao hơn. Giống này được phát hiện vào năm 1949 ở Guatemala, từ đó nó được chọn lọc hàng loạt qua nhiều thế hệ (còn gọi là mass selection), nghĩa là một nhóm các cá thể được chọn dựa trên năng suất và chất lượng của chúng, hạt giống từ những cây này được gộp lại để tạo thành một thế hệ mới, sau đó quá trình này được lặp lại. Việc tuyển chọn hàng loạt diễn ra khắp các trang trại tư nhân ở Guatemala, và từ đó lan sang các khu vực và quốc gia khác ở khu vực Trung Mỹ.

1.2. Giống Maragogype (Brazil) từ Typica

Maragogype hay Maragogipe, là một đột biến tự nhiên của Typica được phát hiện ở Brazil vào khoảng năm 1870. Nhược điểm chính là nó có năng suất tương đối thấp, còn lại mọi thứ trên cây Maragogype đều rất lớn: kích thước chung, lá, quả và hạt. Tuy nhiên, Maragogype không được trồng phổ biến (do năng suất thấp), nhưng vì tính hiếm có và chất lượng tương đối của nó đã thu hút không ít người quan tâm.

Bourbon - Arabica FiRo

2. Dòng dõi Bourbon

Các ghi chép lịch sử cho thấy người Pháp đã cố gắng đưa loại cà phê này từ Yemen đến đảo Bourbon (nay là La Réunion) ba lần, vào các năm 1708, 1715 và 1718; các nghiên cứu di truyền gần đây đã xác nhận điều này. Chỉ một số ít cây từ hai năm 1715 và 1718 là thành công. Cho đến giữa thế kỷ XIX, cà phê Bourbon vẫn chưa rời khỏi hòn đảo này. Các nhà truyền giáo người Pháp – được biết đến với tên gọi Spiritans đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phổ biến Bourbon ở Châu Phi. Năm 1841, giáo điểm đầu tiên được thành lập tại La Réunion. Từ đó, một phái bộ khác được thành lập ở Zanzibar (trên một hòn đảo của Tanzania) vào năm 1859. Từ Zanzibar, nhiều đoàn truyền giáo khác được thành lập như: Bagamoyo (ở Tanzania); St. Augustine (ở Kenya); Bura (ở Kenya). Trong mỗi nhiệm vụ truyền giáo này, hạt cà phê có nguồn gốc từ La Réunion đã lần lượt được đưa đến Tanzania và Kenya. Do lịch sử phân tán hạt cà phê trực tiếp từ La Réunion thông qua các nhà truyền giáo người Pháp, nên Bourbon còn được biết với tên gọi khác là French Mission (Sứ mệnh Pháp).

Các cây giống từ St. Augustine, đã giúp phủ xanh các vùng cao nguyên rộng lớn của Kenya, trong khi cây giống Bagamoyo tham gia vao việc thiết lập các đồn điềnở vùng Kilimanjaro bên phía Tanzania. Từ năm 1930, Tanzania đã bắt đầu các chương trình nhân giống cà phê chính thức dựa trên “chọn lọc hàng loạt” đối với cây Bourbon. Ngoài ra, cây cà phê Bourbon có mặt ở châu Mỹ lần đầu vào năm 1860 ở miền nam Brazil, gần Campinas. Từ đó, nó lan rộng lên phía Bắc vào Trung Mỹ. Như vậy, khi so sánh với Typica, người anh em Bourbon có một lịch sử phân tán tương đối “hẹp” và cận đại hơn. Đều trớ trêu là mặc dù có vị trí cận kề với Ethiopia – Cái nôi của những cây arabica hoang dã, nhưng Kenya, Tanzania và một số nước khác ở Châu Phi chỉ canh tác cà phê sau khi nó được phát hiện gần một thế kỷ – thông qua các nhà truyền giáo người Pháp.

Kết quả nghiên cứu di truyền học gần đây của tổ chức Nghiên cứu Cà phê Thế giới (WCR) đã chỉ ra rằng các giống cà phê cũ của Ấn Độ được gọi là Coorg và Kent có liên quan đến các giống có nguồn gốc từ Bourbon. Điều này chỉ ra rằng vào năm 1670, những hạt giống đầu tiên được Baba Budan mang về Ấn Độ từ Ả Rập (như đã đề cập trong phần lịch sử) có thể bao gồm cả giống Bourbon Typica. Nói cách khác, các nghiên cứu di truyền học tiếp tục củng cố các dữ kiện lịch sử rằng, cây Typica đã bị tách rời khỏi Bourbon khi người Hà Lan mang hạt giống từ Ấn Độ (chứ không phải từ Yemen) đến Java, Indonesia vào những năm 1696 và 1699. Bản thân Bourbon đã trải qua nhiều đột biến và biến thể khác nhau kể từ khi lan rộng. Một số được sàng lọc bởi con người nhằm nâng cao năng suất hơn cây cà phê Bourbon ban đầu, sau đây là một số thế hệ tiêu biểu của cà phê Bourbon:

2.1. Giống Kent từ Ấn Độ

Người ta tin rằng Kent có nguồn gốc từ những hạt giống Bourbon đầu tiên được Baba Budan mang từ Yemen đến Ấn Độ vào năm 1670. Đây là cây cà phê đầu tiên được trồng để chống bệnh gỉ sắt (mặc dù hiện tại nó dễ bị tấn công bởi các chủng mới của bệnh). Hầu hết mọi người tin rằng giống này có nguồn gốc từ các cây Typica được trồng ở miền Đông Ấn Độ, nhưng trên thực tế nó đã được trồng trên khắp Ấn Độ. Ngoài ra còn có một phiên bản của Kent có tên K7 rất phổ biến ở Kenya.

2.2. Giống Caturra

Tương tự như giống Pache thuộc dòng dõi Typica, cây cà phê Caturra là một dạng đột biến tự nhiên của giống cà phê Bourbon, với một biến đổi gen làm cây nhỏ hơn bình thường (đột biến lùn tự nhiên). Nó được phát hiện trên một đồn điền ở bang Minas Gerais, Brazil vào khoảng giữa năm 1915 và 1918. Nhờ vào kích thước cây nhỏ gọn mà Caturra đã được chọn lọc qua nhiều thế hệ để nhấn mạnh vào năng suất và chất lượng. Điều này khiến Caturra trở thành tác nhân quan trọng dẫn đến việc độc canh cà phê (không có cây che bóng) với mật độ cao hơn, diễn ra trong khu vực Trung Mỹ vào nửa sau của thế kỷ XX. Mặc dù được tìm thấy ở Brazil, nhưng giống này không thực sự phổ biến ở quốc gia này, nhưng đã trở nên phổ biến ở Trung Mỹ như Guatemala, Costa Rica, Colombia, Honduras và Panama. Ngày nay, Caturra là một trong những loại cà phê quan trọng nhất về mặt kinh tế ở Trung Mỹ, đến mức nó thường được dùng làm “tiêu chuẩn” để đánh giá các giống cà phê mới được thử nghiệm. Ở Colombia, Caturra được chiếm gần một nửa sản lượng của nước này.

2.3. Giống Pacas (El Salvador)

Pacas là một đột dạng biến tự nhiên của Bourbon, tương tự như Caturra ở Brazil
Villa Sarchi ở Costa Rica. Giống như các loại cây đột biến Bourbon được trồng rộng rãi khác, Pacas có một đột biến gen đơn khiến cây phát triển nhỏ hơn (đột biến lùn). Đây là ưu điểm chính của Pacas, kích thước nhỏ của cây dẫn đến năng suất tiềm năng cao hơn vì có khả năng canh tác với mật độ cao hơn so với các giống khác, trên cùng một diện tích.

2.4. Giống Villa Sarchi

Giống như Caturra Pacas, Villa Sarchi (còn được gọi là La Luisa hoặc Villalobos Bourbon) là một đột biến tự nhiên của quần thể Bourbon với một đột biến gen khiến cây lùn hơn. Giống cây này được phát hiện ở Costa Rica vào khoảng những năm 1950 – 1960 ở vùng Tây Bắc của tỉnh Alajuela và sau đó đã được lựa chọn phả hệ (lựa chọn từng cây qua các thế hệ kế tiếp) ở đó. Villa Sarchi có tầm vóc nhỏ gọn nên dễ thích nghi tốt với điều kiện độ cao lớn và chịu được gió mạnh, điều này còn cho phép nó có thể trồng với mật độ dày hơn. Villa Sarchi có lẽ được biết đến nhiều nhất với tư cách là một nguồn gen tạo nên nhóm giống cà phê Sarchimor có khả năng kháng bệnh gỉ sắt mạnh mẽ.

2.5. Giống Tekisic (El Salvador)

Theo Viện Nghiên cứu Cà phê El Salvador (Coffee Research Institute of El Salvador), cái tên “Tekisic” xuất phát từ “tekiti” trong tiếng Nahuatl, có nghĩa là “công việc”. Để hoàn thành “công việc” này, ISIC đã dành gần 30 năm để thực hiện các lựa chọn cá thể (có nghĩa là một số cây cà phê được lựa chọn dựa trên hiệu suất, hạt giống từ những cây này được ghép lại thành một thế hệ mới, và sau đó quá trình này được lặp lại), bắt đầu từ năm 1949 và hoàn thành vào năm 1977.

2.6. SL28

SL28 được chọn lọc tại Phòng thí nghiệm Nông nghiệp Scott Laboratories (tiếng Anh là Scott Agricultural Laboratories) nay là Phòng thí nghiệm Nông nghiệp Quốc gia Kenya, đặt tại Kabete (National Agricultural Laboratories). Phòng thí nghiệm Scott đã nghiên cứu chọn lọc trên bốn mươi hai cây cà phê có nguồn gốc khác nhau tại từ năm 1935 đến 1939.
Các cây cà phê có tên bắt đầu bằng từ “SL” (SL1 đến SL42) đã được lựa chọn và nghiên cứu về năng suất, chất lượng hạt cũng như khả năng chịu hạn và kháng bệnh, trong đó SL28 được chọn ra vào năm 1935 từ một cây thuộc nhóm di truyền Boubon với khả năng chịu hạn nổi bật. Theo đánh giá của Tổ chức Nghiên cứu Cà phê Thế giới (WCR). Giống SL28 thích hợp với độ cao canh tác từ trung bình đến cao và cho thấy khả năng chống chịu hạn hán, nhưng dễ bị nhiễm các bệnh phổ biến trên cà phê, có những cây SL28 ở nhiều vùng của Kenya đã 60-80 tuổi và vẫn cho năng suất tốt. Ngoài ra, mặc dù các cây cà phê được nghiên cứu chọn lọc trong giai đoạn 1935 -1939 tại Scott Laboratories đều có âm đầu là “SL”, nhưng trên thực tế chúng xuất phát từ các giống cà phê khác nhau, ví như giống SL14 và SL34 có nguồn gốc di truyền của Typica đặc trưng với lá non màu vàng đồng, thích nghi với độ cao lớn. Đây cũng là các giống có vai trò quan trọng về kinh tế ở cả Kenya và Uganda.

Hãy là người đầu tiên chia sẻ bài đăng này!

Bài đăng mới

Máy Pha Cà Phê Espresso

Theo từ điển Merriam-Webster, Espresso được định nghĩa là “cà phê được pha bằng cách ép hơi nước hoặc nước nóng qua các hạt cà

Hạt Mịn (Fine)

Hạt cà phê là một ma trận ba chiều phức tạp của các sợi cellulose được phủ bằng dầu và các chất rắn khác. Những